Cóc mía là một loài lấn chiếm khá nổi danh và có thể nói chúng là loài "hung dữ" nhất trong số đó. Loài cóc này cỗi nguồn từ Nam Mỹ và đã được đưa vào nhiều hệ sinh thái khác với hy vọng chúng sẽ tiêu diệt được các loài gây hại nông nghiệp và bảo vệ mùa màng. Thể nhưng chẳng những không làm được điều mà người ta vẫn kỳ vọng, chúng lại trở nên một loài gây hại, đáng để ý nhất là ở Úc - chúng không bị các động vật bản địa ăn thịt và các loài ký sinh trùng của Úc cũng không thể làm gì được chúng, trong khi đó tuyến độc của cóc mía lại trở thành mối hiểm đối với hầu hết các loài động vật thay ăn thịt nó.
Những con cóc khổng lồ đích thực tồn tại và chung sống ở các khu vực nhiệt đới của Trung và Nam Mỹ, chiều dài nhàng nhàng của chúng chỉ từ 10-15 cm, và con lớn nhất có thể lên tới 24 cm. Đây là loài cóc lớn nhất thế giới - Cóc mía.
Nhưng điều đó không có tức là chúng hoàn toàn không có nguy cơ bị ăn thịt. Nòng nọc cóc mía ở Úc đã được quan sát thấy đang ăn những con đồng loại của chúng. Việc ăn thịt đồng loại này hình như là một phản ứng tiến hóa đối với việc thiếu các loài cạnh tranh trong khuôn khổ xâm lấn của nó, điều này cũng khiến những con cóc mía chuyển sang cạnh tranh lẫn nhau. Và loài động vật này cũng đang chuyển sang một phản ứng tiến hóa bổ sung để nắm hạn chế nguy cơ ăn thịt đồng loại.
Bề mặt cơ thể của cóc mía có các tuyến nọc độc và nếu đủ liều lượng thì chất độc này có thể khiến cho con người cảm thấy bị khó thở thậm chí mù mặt. Da của cóc mía cũng có độc tính cao, phía trên mắt chúng có phần lồi lên như khối u và kéo dài đến mũi, phía sau mỗi mắt có một tuyến độc lớn ẩn trong những khối u đó. Khi bị đe dọa, các tuyến này tiết ra một chất dịch màu trắng sữa gọi là độc tố cóc. Đây là hỗn tạp của 14 hợp chất khác nhau, trong đó có nhiều hợp chất gây hại cho nhiều loài động vật, trong đó có một chất hóa học gọi là Benfotiamine.
Từ ý kiến tiến hóa, ăn thịt đồng loại có thể có ý nghĩa như một cách để hạn chế sự cạnh tranh của các thành viên khác trong loài. Nhưng nhóm nghiên cứu tại Đại học Sydney đã theo dõi hoạt động ăn thịt đồng loại của loài cóc mía cho thấy rằng cuộc xâm lăng thành công của loài này vào Australia đã làm nổi trội sức ép tiến hóa này - điều này cũng có thể xảy ra với các loài săn mồi xâm lấn khác.
Một trong những dấu hiệu của một loài lấn chiếm là sự phong phú và phát triển mau chóng của nó trong khuôn khổ mới, nhưng theo thời gian, nguồn tài nguyên cũng dần bị hạn chế và sự cạnh đồng loại cũng trở nên dễ xảy ra hơn và việc ăn thịt đồng loại dường như cũng là một điều tất yếu đối với các loài động vật hoang dại.
Và sự cạnh tranh đó đã được ghi nhận ở những giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của cóc. Những con cóc mới nở gần đây phải mất vài ngày để phát triển thành nòng nọc và trong thời kì này, chúng thường bị những con nòng nọc lớn hơn, trưởng thành hơn ăn thịt. Trong một vùng nước có nhiều nòng nọc, các ổ trứng được đẻ muộn hơn, khi nòng nọc của ổ trứng khác đã nở và dần trưởng thành thì những ổ chứng mới này có thể bị xóa sổ hoàn toàn trước khi chúng có thể nở.
Nòng nọc ăn nòng nọc có thể xảy ra ở Nam Mỹ. Nhưng điều này xảy ra thẳng hơn nhiều ở Úc. do vậy, các nhà nghiên cứu quyết định xem liệu việc ăn thịt đồng loại có tạo ra sự dị biệt sinh vật học giữa quần thể bản địa và quần thể lấn chiếm hay không.
Để làm như vậy, họ đã thu thập những con cóc từ cả quần thể bản địa và quần thể xâm lấn và theo dõi hành vi của chúng. Để bắt đầu, các nhà nghiên cứu chỉ cần đặt trứng đã thụ tinh vào một thùng chứa với một con nòng nọc độc nhất. Điều này cho thấy những con nòng nọc cóc mía Úc hung hãn hơn vì những quả trứng được đặt cùng chúng có khả năng bị ăn thịt cao hơn 2,5 lần thường nhật.
Trong khi nhiều thay đổi có thể tạo ra sự dị biệt này, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng nòng nọc Úc có nhiều khả năng xác định và tầng những con cóc mía mới nở để ăn thịt hơn. Khi được tuyển lựa di chuyển vào các thùng rỗng và một thùng chứa cóc mía mới nở, những con cóc Úc xâm lấn có khả năng đi vào thùng chứa con non cao hơn gần 30 lần.
Mức độ săn mồi cao có khuynh hướng tạo ra các phản ứng tiến hóa để hạn chế tính dễ bị thương tổn, và việc ăn thịt đồng loại cũng không khác cơ chế này là mấy. Trong khi những con cóc mía Nam Mỹ dành tổng cộng khoảng năm ngày ở thời đoạn nở, thì quần thể ở Úc chỉ mất ba ngày. bởi thế, sức ép của việc ăn thịt đồng loại đã cắt giảm gần một nửa thời kì phát triển của các con non.
Những loại đổi thay do tương tác giữa động vật ăn thịt và con mồi đã được quan sát thấy ở nhiều loài khác nhau. Và các nhà nghiên cứu có liên tưởng đã đưa ra một trường hợp khá thuyết phục rằng môi trường khác biệt nơi với sinh sống của một loài xâm lấn giúp xúc tiến loại tương tác này.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét