Hơn 7 triệu năm trước, Toumaï đã đứng lên trên thảo nguyên châu Phi (ngày nay thuộc Chad). Ai có thể ngờ rằng loài linh trưởng đầy lông có chiều cao tương đương một đứa trẻ 6 tuổi này lại là tiên tổ của loài "đồ sộ" không lông được gọi là Homo sapiens. Có thể thấy, dù có thể dựng lại quá trình tiến hóa của một loài (chính yếu dựa vào hóa thạch) nhưng chúng ta vẫn chưa thể đoán trước được xác thực những thay đổi trong mai sau.
Tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra những suy luận hợp lý, có cơ sở khoa học, và đó được gọi là "giả thuyết sinh học". Nhà điêu khắc động vật Marc Boulay và nhà cổ sinh vật học Sébastien Steyer của Bảo tàng Lịch sử thiên nhiên ở Paris đã thực hành một cố như vậy.
Họ đã thể hiện một số loài động vật sẽ trông như thế nào sau 10 triệu năm kể từ hiện.
Lý do Đầu tiên để chọn thời kỳ này là Trái Đất 10 triệu năm sau là môi trường của địa cầu lúc đó vẫn rất giống với Trái Đất ngày nay: các lục địa sẽ chỉ trôi đi vài nghìn mét, và khả năng xảy ra kỷ băng hà quy mô lớn hoặc tác động của các tiểu hành tinh là rất nhỏ. Thứ hai, khoảng thời kì dài 10 triệu năm có thể giúp các loài động vật hiện tại có đủ thời gian để tiến hóa theo các hướng khác nhau trong khi vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng rõ ràng với nhau, giống như Toumaï và con người chúng ta.
Hai người hiệp tác với nhau và đẵn vận dụng ba phương pháp khi tạo ra các loài mai sau.
Đầu tiên là "sao chép sinh vật học": họ cho rằng hậu duệ của một động vật thực (chả hạn như ếch) sẽ chiếm bờ cõi của một động vật hoàn toàn khác, chẳng hạn như cá voi tấm sừng; sau đó họ xem xét những đổi thay thích ứng nè cần thiết nếu các giả thiết trên là đúng.
Thứ hai, thực hiện các thay đổi thích ứng đến cùng để hình thành cách sống đặc biệt, chẳng hạn như dơi Gygapterus sống trên không.
chung cục là "đổi thay căn bản": tức thị đặt hậu duệ của một động vật thật vào một môi trường hoàn toàn khác. Trong ngày mai hình dung này, hậu duệ của Toumaï, nghĩa là con người chúng ta đã tuyệt chủng.
Nosferapoda kinskii: Quái vật hút máu ban đêm
Chiều cao: 50 cm. Đặc điểm: Lông dài ở lưng có thể hút và lưu giữ sương. Nơi sống: đồng bằng khô cằn
Loài sinh vật này có chiều cao 50 cm và lông dài ở lưng có thể hút và lưu giữ sương đêm. Vào buổi sáng, chúng sẽ liếm lông lưng để uống nước. Nơi sống cốt tử của loài này là những đồng bằng khô cằn.
Dơi quỷ Châu Mỹ - một loài dơi mũi lá nhỏ có nguồn cội từ Châu Mỹ. Nó là một trong ba loài dơi quỷ còn tồn tại, hai loài con lại là dơi quỷ chân lông và dơi quỷ cánh trắng. Chúng chỉ ăn máu động vật có vú, chính yếu là các loài gia súc. Dơi quỷ tiến lại gần con mồi vào ban đêm khi con mồi đang ngủ.
mặc dầu Nosferapoda có tuỳ thuộc giống khỉ đột, nhưng khuôn mặt của nó lại tiết lộ rằng đây là hậu duệ của loài dơi. Chỉ là ở thời điểm này, chúng đã rời khỏi bầu trời, tạm biệt đôi cánh của mình và định cư trên mặt đất: các chi từng phong phanh (các ngón tay rất dài) trở nên dày hơn, bốn trong số năm ngón tay (dùng để mở màng cánh) cũng trở thành ngắn hơn, và ngón tay cái đã phát triển thành khí giới!
Giống như tiên tổ của nó - Dơi quỷ Châu Mỹ, Nosferapoda là một thợ săn. Khi màn đêm buông xuống, nó dùng sóng siêu âm để tìm con mồi. Xung quanh mũi của nó cũng có các cảm biến nhiệt, có thể phát hiện ra các loài động vật tâm huyết để sau đó tiến lại gần hút máu.
Talpidornis sechani: Vừa là chuột chũi, mà cũng vừa là chim
Loài này có chiều dài thân khoảng 30 cm, và đặc điểm chính là bị mù, lông vũ tiến hóa thành những lông măng. Nơi sinh sống: dưới lòng đất ở những vùng đồng bằng khô cằn. ông cha của chúng là loài chim Dinemellia dinemelli - chim Trâu thợ dệt đầu trắng.
Chim Dinemellia dinemelli sống ở miền đông Châu Phi, chúng sống theo bầy đàn và là một loài ăn tạp.
Không thể tin được. Sau 10 triệu năm, loài chim này đã sang những thay đổi cực kỳ khó khăn để thích ứng với cuộc sống dưới lòng đất: đôi cánh co lại thành chi có hình dáng giống như cuốc chim (tàn tích của xương cánh) để đào đất, chi sau trở nên khỏe hơn để đẩy đất thừa trong quá trình đào hang, và thân của chúng cũng trở nên lớn hơn. Để thích nghi với cuộc sống dưới lòng đất, lông vũ của chúng cũng tiến hóa thành các tơ và giống với chuột dũi hoang mạc.
Mặc dù nó đã thay đổi rất nhiều và có vẻ ngoài chừng như không còn liên can tới loài chim, nhưng Talpidornis vẫn giữ một số đặc điểm của tiên sư nó. Giống như loài tiên tổ, chúng sống cuộc sống từng lớp có tổ chức và xây dựng những tổ ấp phức tạp. Tổ của chúng có chuồng xí ngầm và có những phòng biệt lập để chứa trứng và thức ăn - gần giống với cấu trúc của một tổ kiến.
Toàn bộ các thành viên trong đàn của chúng đều có sự phân công cần lao rõ ràng dưới sự cai trị của "nữ hoàng": một số chịu nghĩa vụ tải và xây dựng, một số chịu bổn phận nuôi dưỡng, và một số là chiến binh. Các "tòa nhà" của chúng thậm chí có thể vươn cao lên trên mặt đất, nhưng những "tòa nhà" này thường bị phá hủy trong các cuộc chiến tranh với các đàn phụ cận.
Scolopendra Volans
Chiều dài: 30 cm. Đặc điểm: thân dẹt như rận hoặc rệp. Nơi sống: Tán rừng nhiệt đới .
Loài tiên tổ: Rết đồ sộ Việt Nam.
Scolopendra volans là một loài biết bay và cacshbay của chúng rưa rứa như sóc bay và thằn lằn lượn: nhảy từ độ cao của cây và lướt đến điểm xa nhất bằng cách sử dụng cơ giống như đôi cánh.
ngoại giả, với sự giúp đỡ của một kỹ thuật săn mồi đáng kinh ngạc, nó có thể giết chết con mồi có chiều cao tương đương con người: lướt từ trên cây đến ngay phía trên con mồi, sau đó trực tiếp tiêm nọc độc vào con mồi của chúng.
Gygapterus tropospherus: Vua của bầu trời
Sải cánh: 15 mét (con đực) 12 mét (con cái). Đặc điểm: Các đốm đen trên cánh có thể tích nhiệt vào ban ngày và tỏa nhiệt vào ban đêm hoặc ở độ cao lớn. Nơi sống: trong suốt cuộc đời của mình, chúng bay lên bầu trời ở độ cao từ 5.000 đến 7.000 mét.
tổ tiên ngày nay: Dơi mũi chó Brazil.
Gygapterus sẽ là một trong những loài động vật bay có thể bay đến độ cao lớn nhất kể từ thời cổ đại - 7.000 mét. thành quả này trước tiên là do trọng lượng của nó: vì xương rỗng nên trọng lượng của nó chỉ là 50 kg. Sải cánh dài 15 mét cho phép nó bay lên giò một cách dễ dàng ngay khi gặp không khí nóng - hơi giống với cách bay của chim ăn thịt giờ.
dĩ nhiên, điều này cũng đặt ra một số câu hỏi. trước hết, ở độ cao 7.000 mét, oxy trở nên loãng hơn, vậy thì chúng thở như thế nào? May mắn thay, phổi của Gygapterus đủ lớn và phân nhánh khắp thân để đảm bảo cung cấp oxy cho các cơ quan khác nhau.
Để tồn tại, các "tấm pin dữ" đã phát triển trên đôi cánh của Gygapterus, những đốm đen có thể tích nhiệt và phân phối nhiệt theo nhu cầu của các bộ phận khác nhau trên cơ thể.
Tyrannornis rex - siêu động vật ăn thịt
Chiều cao: 2,5 mét (con cái) 3 mét (con đực). Đặc điểm: do sự kích hoạt lại gen của loài khủng long đang ngủ trong loài vẹt, chúng có những chiếc răng sắc nhọn ở mỏ. Nơi sống: rừng và vùng ngập mặn.
tiên sư ngày nay: Vẹt xám Châu Phi.
Đây là một trong những kẻ săn mồi chung cuộc còn tồn tại trên mặt đất 10 triệu năm sau: một loài chim trên cạn dưới dạng khủng long bạo chúa, hậu duệ trực tiếp của loài vẹt. Loài này sẽ sống theo bầy đàn - khoảng 15 con Tyrannornis sẽ tạo thành một đàn riêng biệt để sống cùng nhau, và thủ lĩnh thường là một trong các cặp vợ chồng trong đàn.
Trong thời kỳ đói kém, chúng có thể trở thành đội quân tranh cương vực của các đàn lân cận. Giống như tiên tổ của chúng, những con chim khổng lồ này dùng ngôn ngữ phức tạp và có âm tiết rõ ràng, nhưng dung tích phổi của chúng lớn hơn nhiều khi so với loài ông cha: tiếng gọi của chúng có thể được nghe thấy từ cách xa hàng chục km.
Chỉ có một kẻ thù độc nhất: Neoviraptor, hậu duệ xa của loài quạ, rất rỡ và thích ăn những quả trứng khổng lồ do Tyrannornis đẻ ra.
